Quy chế tạm thời Đào tạo Đại học Chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường Đại học Nguyễn Trãi
Ngày đăng:
10/18/2009
- Số lượt đọc:
416
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------- ----------------------
QUY CHẾ TẠM THỜI
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC CHÍNH QUY THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TRÃI
( Ban hành theo Quyết định số 92 /QĐ-NTU-ĐT
Ngày 10 tháng 10 năm 2009 của Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Trãi )
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
1. Phạm vi điều chỉnh và mục tiêu
a. Quy chế tạm thời này quy định cụ thể việc đào tạo đại học hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: Tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần ; xét và công nhận tốt nghiệp tại Trường Đại học Nguyễn Trãi.
b. Quy chế này nhằm cụ thể hóa “ Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ” ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 08 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trong Trường Đại học Nguyễn Trãi.
2. Đối tượng áp dụng
Quy chế này áp dụng đối với giảng viên và sinh viên các khóa đào tạo đại học hệ chính quy Trường Đại học Nguyễn Trãi.
Điều 2. Chương trình giáo dục đại học
1. Chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi học phần, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học.
2. Các chương trình đào tạo của Trường được xây dựng trên cơ sở chương trình khung các ngành đào tạo tương ứng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm hai khối kiến thức : Khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp. Mỗi khối kiến thức bao gồm 2 nhóm học phần : Bắt buộc và tự chọn .
Số tín chỉ của các chương trình đào tạo như sau:
Ngành Kinh tế : 130-135 tín chỉ
Ngành Quản trị kinh doanh : 130-135 tín chỉ
Ngành Tài chính-Ngân hàng : 130-135 tín chỉ
Ngành Kế toán : 130-135 tín chỉ
Ngành Kiến trúc : 170-175 tín chỉ
Ngành Mỹ thuật công nghiệp : 170-175 tín chỉ
Điều 3. Tín chỉ
1. Tín chỉ học tập là đơn vị dùng để lượng hoá khối lượng kiến thức và khối lượng học tập, giảng dạy trong quá trình đào tạo; dựa trên số lượng tín chỉ tích luỹ được để đánh gía tiến độ học tập của sinh viên .
Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm, thảo luận, bài tập lớp, đồ án môn học; 45 giờ thực tập tại cơ sở, làm tiểu luận hoặc đồ án tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp .
Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.
2. Tín chỉ học phí là đơn vị dùng để lượng hóa chi phí của các hoạt động giảng dạy, học tập cho từng học phần. Số tín chỉ học phí có thể bằng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn số tín chỉ học tập. Theo từng năm học, Hiệu trưởng quy định số tín chỉ học phí và mức học phí cho mỗi tín chỉ.
3. Thời gian mỗi tiết học được tính bằng 50 phút; sau mỗi tiết học nghỉ 10 phút giải lao.
Điều 4. Học phần
1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong một học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Mỗi học phần được ký hiệu bằng một mã số do Trường quy định.
2. Khối lượng một học phần:
Mỗi học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ.
Học phần tốt nghiệp là học phần đặc biệt có khối lượng tương đương 10 tín chỉ.
3. Có hai loại học phần : Học phần bắt buộc và học phần tự chọn.
a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích luỹ.
b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn hoặc tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.
Điều 5. Thời gian hoạt động giảng dạy
1. Thời gian hoạt động của Trường được tính từ 07 giờ đến 21 giờ hàng ngày.
2.Tùy theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của Trường, Ban Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp, tối thiểu mỗi lớp là 25 sinh viên.
Điều 6. Đánh giá kết quả học tập
Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:
1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).
2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.
3. Khối lượng kiến thức tích luỹ là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khoá học.
4. Điểm trung bình chung tích luỹ là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích luỹ được, tính từ đầu khoá học cho tới thời điểm được xem xét
Điều 7. Một số định nghĩa
- Học phần tiên quyết: Học phần A là học phần tiên quyết của học phần B thì sinh viên phải học học phần A mới được dự học học phần B.
- Học phần song hành: Học phần A là học phần song hành của học phần B thì sinh viên phải theo học trước hoặc học đồng thời với học phần B.
Học phần tiên quyết và học phần song hành được sử dụng trong xét duyệt việc đăng ký học tập của sinh viên.
- Học phần tương đương là học phần thuộc chương trình đào tạo của một khoá, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại Trường được phép tích luỹ để thay cho một học phần trong chương trình đào tạo của ngành.
- Học phần thay thế được sử dụng để thay thế cho một học phần có trong chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa.
Các học phần tương đương hoặc thay thế do Hội đồng Khoa học-Đào tạo của Khoa quản lý chuyên ngành đề xuất. Hiệu trưởng xem xét, quyết định và là các học phần bổ sung cho chương trình đào tạo trong quá trình thực hiện. Học phần tương đương hoặc thay thế có thể được áp dụng cho tất cả các khoá, các ngành hoặc chỉ được áp dụng hạn chế cho một hoặc một số khoá, ngành .
Chương II
TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
Điều 8. Thời gian và kế hoạch đào tạo
1. Trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.
a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Thời gian một khoá học đối với đào tạo trình độ đại học tại Trường Đại học Nguyễn Trãi là bốn năm hoặc năm năm tuỳ theo ngành học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương.
b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3-4 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Trường còn tổ chức một học kỳ phụ để sinh viên có điều kiện được học lại, học bù, học vượt hoặc học cải thiện điểm. Một học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi.
2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho chương trình, Hiệu trưởng quyết định phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.
3. Tuỳ theo năng lực và điều kiện cụ thể mà sinh viên tự sắp xếp để rút ngắn (học theo tiến độ nhanh) hoặc kéo dài thời gian đào tạo (học theo tiến độ chậm).
Thời gian rút ngắn tối đa là 2 học kỳ chính.
Thời gian tối đa hoàn thành chương trình là 6 năm (đối với khóa học 4 năm) hoặc 8 năm (đối với khóa học 5 năm).
Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học,cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.
Điều 9. Đăng ký nhập học
1.Thí sinh trúng tuyển trong kỳ thi tuyển sinh đại học được báo nhập học và đã hoàn thành hồ sơ nhập học theo Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành thì sẽ được công nhận là sinh viên Trường Đại học Nguyễn Trãi và là đối tượng áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Trường. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do Ban Đào tạo quản lý.
2.Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Ban Đào tạo trình Hiệu trưởng ký Quyết định công nhận danh sách sinh viên biên chế theo từng ngành học, lớp học đồng thời cấp Thẻ sinh viên (trong đó có mã sinh viên), Phiếu đăng ký học phần và Sổ tay sinh viên cho sinh viên.
3.Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.
4.Sinh viên nhập học được Trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.
Điều 10. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo
Những thí sinh đạt yêu cầu xét tuyển được Trường sắp xếp vào học các ngành và chuyên ngành đào tạo đã đăng ký trong hồ sơ đăng ký xét tuyển; trường hợp số lượng đăng ký lớn hơn hoặc nhỏ hơn chỉ tiêu của ngành đào tạo thì Trường sẽ bố trí sinh viên vào ngành đào tạo khác tùy theo điểm tuyển sinh và quy định cụ thể từng năm.
Trong quá trình học tập, sinh viên có thể đăng ký xin chuyển ngành đào tạo gửi Nhà trường xem xét, giải quyết với điều kiện điểm trúng tuyển của ngành đang học phải bằng hoặc lớn hơn điểm xét tuyển của ngành xin chuyển, ngành đang học và ngành xin chuyển phải cùng khối thi tuyển sinh.
Điều 11. Tổ chức lớp học
1. Lớp chuyên ngành
a) Lớp chuyên ngành được tổ chức theo khoá tuyển sinh và theo chuyên ngành đào tạo, duy trì trong cả khoá học, có hệ thống cán bộ lớp, cán bộ Đoàn, Hội sinh viên. Lớp do Khoa chuyên ngành quản lý. Mỗi chuyên ngành trong một khoá đào tạo có thể có một hay nhiều lớp chuyên ngành;
b) Mỗi lớp có một giảng viên là cố vấn học tập cho sinh viên;
c)Lớp chuyên ngành do Khoa chuyên ngành quản lý.
2. Lớp học phần
a) Lớp học phần bao gồm những sinh viên (có thể cùng hoặc khác ngành, cùng hoặc khác khóa) theo học cùng một học phần trong cùng một khoảng thời gian;
b) Lớp học phần được tổ chức dựa vào việc đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Số lượng sinh viên tối thiểu cho mỗi lớp học là 25 sinh viên; riêng đồ án kiến trúc, mỹ thuật công nghiệp, số lượng sinh viên tối thiểu cho một nhóm do một giảng viên phụ trách là 12. Dựa vào số lượng sinh viên đăng ký học trong mỗi học kỳ, Trường có thể không tổ chức hoặc tổ chức nhiều lớp học cho một học phần. Nếu số lượng sinh viên đăng ký dưới mức tối thiểu, lớp học sẽ bị huỷ. Với những học phần không được tổ chức, sinh viên phải đăng ký chuyển sang những học phần khác, nếu chưa đảm bảo quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ. Đối với các học phần có nhiều thành phần, nhà trường có thể tổ chức các thành phần riêng rẽ (lý thuyết, thực hành, thảo luận…) hoặc kết hợp (lý thuyết/thực hành, lý thuyết/thảo luận…).
Điều 12. Đăng ký khối lượng học tập
1. Trách nhiệm của Trường và sinh viên trong việc đăng ký học phần
a) Trách nhiệm của Trường.
Việc đăng ký học phần được tiến hành từng học kỳ và bắt đầu từ học kỳ 1 của năm thứ hai. Trước mỗi học kỳ ít nhất 8 tuần, Trường thông báo cho sinh viên:
- Lịch trình học tập dự kiến cho từng chuyên ngành đào tạo trong học kỳ;
- Danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến giảng dạy, đề cương chi tiết từng học phần;
- Điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần (học phần tiên quyết, học phần học trước, học phần song hành ..);
- Lịch thi, hình thức thi của các học phần;
- Họ, tên của các giáo viên dự kiến phụ trách từng học phần.
Các cố vấn học tập chịu trách nhiệm quản lý và giúp đỡ sinh viên theo sự phân công của Khoa, theo quy định chung của Trường.
b) Trách nhiệm của sinh viên
- Nghiên cứu, tìm hiểu chương trình đào tạo và kế hoạch giảng dạy của chuyên ngành mà sinh viên đã đăng ký học;
- Tự kiểm tra kết quả quá trình học tập của bản thân;
- Liên hệ với cố vấn học tập để được cố vấn về kế hoạch học tập trong học kỳ;
- Hoàn thành các thủ tục để đăng ký học, đăng ký rút bớt, đăng ký học lại, học bổ sung đúng thời hạn.
2. Các hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ:
a) Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 8 tuần;
b) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;
c) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký đổi sang các học phần khác khi không có lớp học phần hoặc không đảm bảo điều kiện tiên quyết của học phần.
3. Khối lượng học tập trong mỗi học kỳ
a) Khối lượng đăng ký học tập tối thiểu:
- 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính, trừ học kỳ cuối khoá học, đối với những sinh viên xếp hạng học lực bình thường;
- 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính, trừ học kỳ cuối khoá học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp loại học lực yếu;
- Không hạn chế khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ.
b) Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ; không hạn chế khối lượng đăng ký học tập của những sinh viên có học lực bình thường nhưng phải đảm bảo tổng thời gian học tập như được quy định tại khoản 3 Điều 8 của Quy chế này.
Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên được ghi trong sổ đăng ký học tập (hoặc phiếu đăng ký học tập) chỉ được chấp nhận khi có chữ ký của cố vấn học tập. Ban Đào tạo lưu giữ sổ (hoặc phiếu) đăng ký học tập của sinh viên.
4. Trình tự đăng ký học phần
- Bước 1: Mỗi học kỳ, căn cứ vào chương trình đào tạo, danh mục và học phần dự kiến trong học kỳ, với sự hướng dẫn của cố vấn học tập, từng sinh viên xác định các học phần muốn đăng ký và ghi đầy đủ vào Phiếu đăng ký học phần, trình cố vấn học tập ký duyệt. Phiếu đăng ký học phần được thu theo lớp chuyên ngành và nộp cho Ban Đào tạo trong thời gian đăng ký;
- Bước 2: Ban Đào tạo xử lý đăng ký học tập của sinh viên, thông báo kết quả cho sinh viên. Sinh viên nhận kết quả đăng ký tại Khoa. Sinh viên có 1 tuần để điều chỉnh và đăng ký học phần bổ sung. Sau thời gian này, Ban Đào tạo không giải quyết việc điều chỉnh đăng ký học phần;
- Bước 3: Căn cứ kết quả trên Phiếu đăng ký học phần, sinh viên nộp học phí trong khoảng thời gian quy định. Chỉ sau khi nộp xong học phí, việc đăng ký học phần mới được coi như hoàn tất. Ban Đào tạo sẽ căn cứ vào danh sách đóng học phí để lập danh sách sinh viên dự thi các học phần.
Điều 13. Bổ sung hoặc rút bớt học phần
1. Việc đăng ký bổ sung học phần chỉ thực hiện với các học phần không đủ điều kiện mở lớp và các học phần sinh viên thiếu điều kiện tiên quyết, chỉ được chấp nhận trong học kỳ chính và phải hoàn thành 1 tuần trước khi bắt đầu học kỳ.
2. Việc rút bớt học phần đã được duyệt chỉ được chấp nhận sau 6 tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 8 tuần; sau 2 tuần kể từ đầu học kỳ phụ, nhưng không muộn quá 4 tuần. Các học phần rút bớt phải là các học phần chưa được giảng tính tới thời điểm sinh viên đăng ký rút bớt. Ngoài thời hạn trên học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký; trường hợp sinh viên không đi học được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.
3. Điều kiện bổ sung hoặc rút bớt các học phần đã đăng ký:
- Sinh viên viết đơn theo mẫu có chữ ký chấp nhận của cố vấn học tập và nộp cho Ban Đào tạo;
- Ban Đào tạo xử lý đơn với điều kiện không vi phạm Điều 12 của Quy chế này, ghi vào mục đăng ký được chấp nhận và gửi giấy báo cho sinh viên qua cố vấn học tập; Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt hoặc theo học với học phần bổ sung sau khi giáo viên của học phần nhận giấy báo của Ban Đào tạo.
Điều 14. Đăng ký học lại , học cải thiện điểm
1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F sau 2 lần thi phải đăng ký học lại học phần đó ở trong các học kỳ chính hoặc học kỳ phụ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.
2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.
3. Ngoài các trường hợp trên, sinh viên được đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác (của học phần tự chọn) đối với các học phần bị điểm D để cải thiện điểm trung bình chung tích luỹ.
Điều 15. Học phí
1. Căn cứ vào số lượng tín chỉ đã đăng ký, sinh viên nộp học phí chậm nhất 3 tuần kể từ khi bắt đầu học kỳ. Sau thời gian này, nếu sinh viên chưa nộp học phí, phòng Kế toán-tài chính, Khoa chủ quản thông báo cho sinh viên dừng học tạm thời và thông báo cho Ban Đào tạo tạm thời gạch tên sinh viên khỏi danh sách lớp học phần. Chậm nhất sau 5 tuần, sinh viên vẫn không nộp học phí thì được coi như đã xoá tên khỏi danh sách lớp học phần và bị xử lý đình chỉ học tập 1 học kỳ và không công nhận kết quả đã học của các học phần trong học kỳ đó.
2. Trường hợp sinh viên đăng ký và được chấp nhận rút bớt học phần phải chấp hành quy định nộp học phí trên kể từ khi được chấp nhận và vẫn phải nộp 1/4 học phí của học phần rút bớt nếu được chấp nhận trong thời gian quy định. Sinh viên phải nộp 100% học phí học phần nếu đăng ký rút bớt ngoài thời gian quy định.
Điều 16. Xếp hạng năm đào tạo và học lực
1. Sau mỗi năm học, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích luỹ, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:
a) Đối với hệ đào tạo 4 năm:
- Sinh viên năm thứ nhất : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ dưới 30 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ hai : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 30 đến dưới 65 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ ba : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 65 đến dưới 100 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ tư : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 100 đến dưới 135 tín chỉ.
b) Đối với hệ đào tạo 5 năm:
- Sinh viên năm thứ nhất : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ dưới 35 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ hai : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 35 đến dưới 70 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ ba : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 70 đến dưới 105 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ tư : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 105 đến dưới 140 tín chỉ;
- Sinh viên năm thứ năm : Nếu khối lượng tín chỉ tích luỹ từ 140 đến dưới 175 tín chỉ.
2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:
a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích luỹ đạt từ 2,00 trở lên;
b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học;
3) Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng sinh viên về học lực.
Điều 17. Nghỉ ốm
Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi Chủ nhiệm khoa trong vòng một tuần lễ kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế trường, y tế địa phương hoặc của bệnh viện.
Điều 18. Nghỉ học tạm thời
1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:
a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;
b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị lâu dài, có giấy xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;
c) Vì nhu cầu cá nhân. Trong trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 19 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích luỹ không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học được tính vào thời gian học tập tối đa tại Trường theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Quy chế này.
2. Sinh viên nghỉ học tạm thời khi muốn trở lại học tiếp tại Trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.
Điều 19. Bị buộc thôi học
1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a) Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khoá; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;
b) Có điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba; dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;
c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại Trường quy định tại khoản 3 Điều 8 của Quy chế này;
d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 3 Điều 32 của Quy chế này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của Trường.
2. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Trường thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Sinh viên bị buộc thôi học theo các mục a, b, c của Điều này có thể được chuyển xuống học chương trình đào tạo có trình độ thấp hơn tại Trường (khi Trường được phép đào tạo). Sinh viên được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ khi chuyển sang học ở các chương trình mới này. Hiệu trưởng xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.
Điều 20. Học cùng lúc hai chương trình
1. Sinh viên học cùng lúc hai chương trình là sinh viên có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.
2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:
a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất và phải thỏa mãn điều kiện 2 ngành có cùng khối thi vào đại học và điểm trúng tuyển ngành thứ nhất bằng hoặc lớn hơn điểm trúng tuyển ngành thứ hai;
b) Sinh viên phải học xong 2 học kỳ đầu của khóa học theo một ngành đã chọn khi trúng tuyển kỳ thi tuyển sinh quốc gia;
c) Sinh viên đã tích lũy đủ số tín chỉ tối đa quy định cho mỗi học kỳ và có điểm trung bình chung học tập của 2 học kỳ đầu từ 3,0 trở lên.
3. Sinh viên đang học thêm chương trình thứ hai, nếu rơi vào diện bị xếp hạng học lực yếu của chương trình thứ hai, phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.
4. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều 8 của Quy chế này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.
5. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.
Điều 21. Chuyển trường
1. Sinh viên được xét chuyển trường trong các điều kiện sau:
a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;
b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;
c) Được sự đồng ý cho phép chuyển trường (hoặc tiếp nhận) của Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Trãi và đồng ý tiếp nhận (hoặc cho phép chuyển trường) của Hiệu trưởng trường xin chuyển đến;
2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:
a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi theo đề chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;
b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;
c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;
d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.
3. Thủ tục chuyển trường
a) Đối với trường hợp chuyển đi:
Sinh viên xin chuyển trường làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của Trường, có sự đồng ý cho phép chuyển trường của Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Trãi;
b) Đối với trường hợp chuyển đến:
- Sinh viên xin chuyển trường làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định chung, có sự đồng ý cho phép chuyển trường của Hiệu trưởng trường chuyển đi và sự đồng ý tiếp nhận của Hiệu trưởng Trường đại học Nguyễn Trãi;
- Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Trãi quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và Trường Đại học Nguyễn Trãi.
Chương III
KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN
Điều 22. Đánh giá học phần
1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: tuỳ tính chất học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận bao gồm: Điểm chuyên cần; điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số 70 % hoặc 80%.
2. Bộ môn đề xuất hình thức, cách đánh giá học phần, Khoa chủ quản tổng hợp và trình Hiệu trưởng phê duyệt.
Các điểm đánh giá bộ phận được quy định trong đề cương chi tiết môn học và được giáo viên thông báo cho sinh viên khi bắt đầu môn học.
3. Đối với các học phần thực hành: Sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành. Điểm trung bình cộng của các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm thực hành của học phần.
3. Giáo viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi giữa học phần, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ điểm thi kết thúc học phần.
Điều 23. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần
1. Cuối mỗi học kỳ, Trường tổ chức một kỳ thi chính và tổ chức thêm một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính có lý do chính đáng hoặc có học phần chưa đạt ở kỳ thi chính. Kỳ thi phụ được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính
2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, đảm bảo ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ.
Điều 24. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và thi kết thúc học phần
1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Việc ra đề thi có thể do giảng viên môn học phụ trách hoặc lấy từ ngân hàng đề thi.
2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, làm đồ án, làm bài trên giấy, làm trực tiếp trên máy tính hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần. Giảng viên thông báo cho sinh viên trước khi học các học phần. Việc coi thi được thực hiện theo Quy chế tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng.
3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.
Việc nhân đề, tổ chức chấm thi, bảo quản bài thi do bộ phận Khảo thí của Ban Đào tạo đảm nhận. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm (đối với các môn lý thuyết), một năm (đối với các học phần thiết kế kiến trúc, mỹ thuật công nghiệp) kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn, đồ án.
4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình Chủ nhiệm bộ môn quyết định.
5. Các điểm thi kết thúc học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi, cán bộ ghép phách và làm thành ba bản. Một bản lưu tại Bộ môn, một bản lưu tại bộ phận Khảo thí của Ban Đào tạo và một bản gửi về văn phòng Khoa. Trong trường hợp lớp học phần tập hợp sinh viên nhiều Khoa thì phải gửi cho mỗi Khoa một bản. Thời gian gửi bảng điểm chậm nhất một tuần sau khi kết thúc chấm thi học phần.
Điều 25. Số lần dự thi của sinh viên
1. Điều kiện dự thi kết thúc học phần.
Sinh viên bị một trong các trường hợp sau thì không được dự thi kết thúc học phần:
- Nghỉ học quá 20% số tiết;
- Bị điểm 0 đối với điểm đánh gía bộ phận;
- Chưa đóng đủ học phí trong thời gian quy định của Trường.
Sau buổi học cuối cùng của mỗi học phần, giáo viên phụ trách học phần công bố danh sách sinh viên đủ điều kiện dự thi và sinh viên không đủ điều kiện dự thi. Danh sách sinh viên không đủ điều kiện dự thi phải ghi rõ những điều kiện còn thiếu của các sinh viên đó. Chủ nhiệm bộ môn hoặc Chủ nhiệm Khoa phải ký duyệt danh sách này.
Sinh viên đủ điều kiện dự thi được dự thi trong kỳ thi chính, nếu không đạt được dự thi trong kỳ thi phụ ngay sau đó.
2. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm không (0) ở kỳ thi chính.
3. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được Chủ nhiệm Khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó; điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp thi không đạt trong kỳ thi phụ thì những sinh viên này phải dự thi tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau.
4. Sau hai lần thi, nếu không đạt, sinh viên phải học lại học phần đó. Việc học lại theo quy định riêng của Trường.
Điều 26. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần
1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.
2. Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận như sau:
a) Điểm quá trình (gọi tắt là điểm QT): Bao gồm điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm đánh giá phần thực hành, điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần nếu có, điểm tiểu luận. Trọng số của điểm QT so với điểm học phần được quy định như sau:
- Đối với các học phần chỉ có lý thuyết : Bằng 20%;
- Đối với các học phần có cả lý thuyết và bài tập, thí nghiệm, thực hành, ngoại ngữ… hoặc đối với các học phần đồ án môn học: Bằng 30%.
b) Điểm thi kết thúc học phần ( gọi tắt là điểm KT ) : Là điều kiện bắt buộc cho mọi trường hợp, có trọng số bằng 80% đối với các học phần chỉ có lý thuyết và bằng 70% đối với các học phần còn lại.
3. Công bố điểm quá trình
a) Đối với các môn thi viết, trước khi kết thúc học phần, giảng viên phải công bố công khai điểm quá trình của từng sinh viên trước lớp, nộp điểm quá trình cho Bộ môn và bộ phận Khảo thí của Ban Đào tạo.
b) Đối với các môn thi vấn đáp, đồ án, thực hành, mỹ thuật …, trước khi thi kết thúc hoặc đánh giá học phần lần thứ nhất, các giảng viên phải công bố công khai điểm quá trình của từng sinh viên trước lớp và kết hợp với điểm thi hoặc điểm kết thúc học phần để cho điểm tổng hợp của học phần.
4. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân , sau đó chuyển thành điểm chữ như sau:
a) Loại đạt: A (8,5-10) Giỏi
B (7,0-8,4) Khá
C (5,5-6,9) Trung bình
D (4,0-5,4) Trung bình yếu
b) Loại không đạt: F (dưới 4,0) Kém
c) Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các ký hiệu sau:
I Chưa đủ dữ liệu đánh giá.
X Chưa nhận được kết quả thi.
d) Đối với những học phần được Nhà trường cho phép chuyển điểm hoặc học vượt khi xếp mức đánh giá được sử dụng ký hiệu R kèm với kết quả.
5. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau :
a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;
b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;
c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.
6. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 5 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.
7. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau:
a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được Chủ nhiệm Khoa cho phép;
b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được Chủ nhiệm Khoa chấp nhận.
Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.
8. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Ban Đào tạo của Trường chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ Khoa chuyển lên.
9. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:
a) Điểm học phần đã đạt đối với những học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt (học theo tiến độ nhanh);
b) Những học phần được công nhận kết quả khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.
Điều 27 . Cách tính điểm trung bình chung
1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:
A tương ứng với 4
B tương ứng với 3
C tương ứng với 2
D tương ứng với 1
F tương ứng với 0
Bảng 1 : Thang điểm học phần
|
|
Thang điểm 10 (1)
|
Điểm quy đổi (2)
|
|
|
|
Điểm chữ
|
Điểm số
|
|
|
8,5 ÷ 10
|
A
|
4
|
|
Đạt
|
7,0 ÷ 8,4
|
B
|
3
|
|
|
5,5 ÷ 6,9
|
C
|
2
|
|
|
4,0 ÷ 5,4
|
D
|
1
|
|
Không đạt
|
< 4,0
|
F
|
0
|
(1) Dùng cho điểm đánh giá bộ phận và điểm học phần.
(2) Dùng cho tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy ( Điều 27 ).
2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân.
Trong đó:
A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích luỹ;
ai là điểm của học phần thứ i;
ni là số tín chỉ của học phần thứ i;
n là tổng số học phần.
Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích luỹ để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi.
Bảng 2 : Xếp hạng học lực sinh viên
|
Học lực
|
Loại
|
Điểm trung bình chung
|
|
|
Xuất sắc
|
3,60 ÷ 4,00
|
|
Bình thường
|
Giỏi
|
3,20 ÷ 3,59
|
|
|
Khá
|
2,50 ÷ 3,19
|
|
|
Trung bình
|
2,00 ÷ 2,49
|
|
Yếu kém
|
Yếu
|
1,00 ÷ 1,99
|
|
|
Kém
|
< 1,00
|
Chương IV
XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỖT NGHIỆP
Điều 28. Làm tốt nghiệp khoá học
1. Đầu học kỳ cuối khoá, sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được quy định như sau:
a) Làm đồ án tốt nghiệp: Đối với toàn bộ sinh viên các Ngành Kiến trúc và Ngành Mỹ thuật công nghiệp;
b) Làm khóa luận tốt nghiệp: Đối với sinh viên Ngành Kinh tế, Ngành Quản trị kinh doanh, Ngành Tài chính-Ngân hàng và Ngành Kế toán đạt các điều kiện quy định của Trường;
Đồ án, khóa luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 10 tín chỉ.
Sinh viên phải tích lũy đủ tất cả các học phần (trừ Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng-an ninh) mới được nhận đồ án (khóa luận) tốt nghiệp.
c) Học và thi một số học phần chuyên môn: Sinh viên không được giao làm khóa luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình.
2. Các điều kiện để sinh viên được đăng ký làm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp, hình thức và thời gian làm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp, hình thức chấm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp, nhiệm vụ của giảng viên hướng dẫn, trách nhiệm của Bộ môn và Khoa đối với sinh viên trong thời gian làm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp, số lượng khóa luận tốt nghiệp cũng như các học phần chuyên môn học thêm được quy định tùy theo từng Ngành đào tạo cũng như tùy theo điều kiện cụ thể từng năm của Trường.
Điều 29. Chấm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp
1. Hiệu trưởng quyết định danh sách các Hội đồng chấm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp.
2. Điểm của đồ án (khóa luận) tốt nghiệp được chấm theo thang điểm chữ như quy định tại các mục a, b, khoản 4, Điều 26 của Quy chế này. Điểm của đồ án (khóa luận) tốt nghiệp Hiệu trưởng quy định riêng. Điểm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích luỹ của khoá học.
3. Sinh viên có đồ án (khóa luận) tốt nghiệp bị điểm F phải đăng ký làm lại đồ án (khóa luận) tốt nghiệp.
Điều 30. Điều kiện xét và công nhận tốt nghiệp
1. Những sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được Trường xét và công nhận tốt nghiệp:
- Không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập cho đến thời điểm xét tốt nghiệp;
- Tích luỹ đủ số tín chỉ cho chương trình đào tạo được quy định tại Điều 2;
- Điểm trung bình chung tích luỹ cho toàn khoá học đạt từ 2,00 trở lên;
- Có chứng chỉ Giáo dục quốc phòng-an ninh và Giáo dục thể chất.
2. Ban Đào tạo lập danh sách sinh viên đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp để Hội đồng xét tốt nghiệp xem xét.
Hội đồng xét tốt nghiệp trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng ủy quyền làm Chủ tịch, Trưởng Ban Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Chủ nhiệm Khoa chuyên môn, Trưởng phòng Công tác sinh viên.
3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp.
Điều 31. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, cấp chứng chỉ học phần và chuyển chương trình đào tạo.
1. Sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng tốt nghiệp đại học chính quy theo ngành đào tạo chính .
2. Xếp hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích luỹ của toàn khoá học, như sau:
a) Loại xuất sắc : Điểm trung bình chung tích luỹ từ 3,60 đến 4,00;
b) Loại giỏi : Điểm trung bình chung tích luỹ từ 3,20 đến 3,59;
c) Loại khá : Điểm trung bình chung tích luỹ từ 2,50 đến 3,19;
d) Loại trung bình : Điểm trung bình chung tích luỹ từ 2,00 đến 2,49.
3. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:
a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình.
b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.
4. Ngoài Bằng tốt nghiệp, sinh viên còn được cấp bảng điểm. Trong bảng điểm có ghi rõ điểm của tất cả các học phần trong thời gian học tại trường, chuyên ngành đào tạo.
5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng-an ninh và chứng chỉ giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời gian 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về Trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.
6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng có thể làm đơn xin chuyển sang các chương trình khác theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Quy chế này.
Chương V
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 32. Xử lý kỷ luật đối với các sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra
1. Trong khi học, dự kiểm tra học phần; làm tiểu luận, đồ án, bài tập lớn; chuẩn bị và tham gia thảo luận, thực hành; thi kết thúc học phần; làm đồ án (khóa luận) tốt nghiệp nếu sinh viên vi phạm quy chế sinh sẽ bị xử lý kỷ luật theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học và cao đẳng hệ chính quy hiện hành, Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, và THCN hệ chính quy…
2. Sinh viên thi hộ hoặc nhờ người thi hộ; làm hộ đồ án (khóa luận) tốt nghiệp hoặc nhờ người làm hộ đồ án (khóa luận) tốt nghiệp đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.
3. Sinh viên học hộ hoặc nhờ người học hộ đều bị xử lý kỷ luật ở mức cảnh cáo toàn Trường đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất, đình chỉ học 1 năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai và bị buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ ba.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 33. Điều khoản thi hành
Quy chế này được áp dụng cho các khoá đào tạo đại học chính quy theo hệ thống tín chỉ của trường Đại học Nguyễn Trãi kể từ năm học 2009-2010. Việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản của Quy chế do Hiệu trưởng quyết định.
HIỆU TRƯỞNG
Nơi nhận :
- Bộ GD&ĐT (để báo cáo)
- HĐQT ( để báo cáo)
- Ban Giám hiệu
- Các đơn vị trong Trường ( để thực hiện )
- các lớp sinh viên( để thực hiện )
- Trang Web
- Lưu VP,ĐT
PGS.TS.KTS Trần Trọng Hanh